Nhiều hành vi bị xác định là trốn thuế
Cụ thể, Điều 45 của Luật quy định hàng loạt hành vi bị coi là trốn thuế.
Trong đó, người nộp thuế sẽ bị xác định có hành vi trốn thuế nếu không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế quá 90 ngày kể từ thời hạn quy định, dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền được miễn, giảm, hoàn thuế.
Luật cũng coi là hành vi trốn thuế đối với trường hợp không ghi chép đầy đủ các khoản thu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế trong sổ kế toán; không lập hóa đơn hoặc không kê khai thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá thanh toán thực tế nhằm giảm số thuế phải nộp.
Hình minh họa.
Ngoài ra, việc sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp hoặc sử dụng không đúng quy định để hạch toán hàng hóa, dịch vụ đầu vào nhằm làm giảm nghĩa vụ thuế hoặc tăng số tiền được miễn, giảm, khấu trừ, hoàn thuế cũng bị xác định là hành vi trốn thuế.
Luật đồng thời nghiêm cấm việc sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai nghĩa vụ thuế.
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, các hành vi như khai sai thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cố ý không kê khai hoặc khai sai thuế; cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu nhằm mục đích trốn thuế đều thuộc nhóm hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, người nộp thuế sử dụng hàng hóa thuộc diện không chịu thuế hoặc được miễn thuế sai mục đích nhưng không khai báo với cơ quan quản lý thuế khi thay đổi mục đích sử dụng cũng bị coi là trốn thuế.
Một trường hợp khác được Luật bổ sung là người nộp thuế vẫn tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời gian đã đăng ký ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
Tuy nhiên, Luật cũng quy định một số trường hợp không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà chỉ bị xử phạt vi phạm thủ tục thuế.
Cơ quan thuế được áp dụng nhiều biện pháp khi phát hiện dấu hiệu trốn thuế
Bên cạnh việc quy định rõ các hành vi vi phạm, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 cũng bổ sung các biện pháp phục vụ công tác kiểm tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế.
Theo Điều 23 của Luật, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc trả lời trực tiếp để phục vụ quá trình xác minh.
Đáng chú ý, cơ quan thuế được quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử và dữ liệu từ máy tính tiền của người nộp thuế khi có dấu hiệu trốn thuế. Các tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin đúng nội dung, đúng thời hạn và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp.
Trong trường hợp cần thiết để xác định hành vi vi phạm, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc trưởng đoàn kiểm tra thuế có quyền quyết định tạm giữ tài liệu liên quan đến vụ việc. Việc tạm giữ phải được lập biên bản, bảo quản theo đúng quy định và cơ quan thuế phải giao một bản quyết định cùng biên bản tạm giữ cho tổ chức, cá nhân có tài liệu bị tạm giữ.
