Một bệnh phổ biến ở người làm việc văn phòng nhưng ít được chú ý

Khô mắt là bệnh lý phổ biến ở người làm việc với máy tính và thiết bị điện tử. Tuy nhiên, nhiều người thường bỏ qua các dấu hiệu ban đầu như khô, rát, cộm hay nhòe mắt.

Dân văn phòng thường gặp tình trạng khô mắt vì nhìn màn hình máy tính quá lâu. Ảnh: Explora.

Khô mắt đang trở thành vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, đặc biệt ở nhóm người làm việc văn phòng thường xuyên sử dụng máy tính và thiết bị điện tử. Nhiều người vẫn dễ bỏ qua các dấu hiệu ban đầu của tình trạng này.

Thông tin được TS.BS Trần Đình Minh Huy, khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt TP.HCM, chia sẻ tại lễ ra mắt chương trình “Sàng lọc khô mắt – Chăm sóc bảo vệ mắt trong môi trường thiết bị kỹ thuật số” ngày 6/3.

Theo bác sĩ Huy, thống kê của ngành y tế cho thấy khoảng 60% người làm văn phòng mắc các bệnh lý về mắt, trong đó khô mắt là tình trạng phổ biến nhất ở nhóm thường xuyên sử dụng thiết bị điện tử. Các triệu chứng điển hình của khô mắt gồm khô, rát, cộm, nhòe mắt, chói sáng, đau đầu và khó tập trung. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, các biểu hiện này thường nhẹ và dễ bị bỏ qua.

“Nhiều người cho rằng đó chỉ là tình trạng mỏi mắt tạm thời khi làm việc với máy tính. Nhưng nếu không được nhận diện sớm và chăm sóc đúng cách, khô mắt có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất học tập, làm việc cũng như chất lượng cuộc sống”, bác sĩ Huy nói.

nguoi lam viec van phong anh 1
Bác sĩ Trần Đình Minh Huy chia sẻ tại buổi lễ. Ảnh: BTC.

Theo định nghĩa hiện nay, khô mắt được xem là bệnh lý đa yếu tố, đặc trưng bởi sự mất cân bằng nội môi của lớp phim nước mắt, lớp màng mỏng bao phủ bề mặt nhãn cầu.

Để dễ hình dung, bác sĩ Huy ví lớp phim nước mắt giống như một lớp “dầu bóng” phủ trên bề mặt mắt. Ở trẻ nhỏ, lớp phim này ổn định nên đôi mắt thường long lanh. Khi tuổi tác tăng lên, lớp phim nước mắt dần mất ổn định, khiến mắt kém sáng và dễ xuất hiện các triệu chứng khô.

Lớp phim nước mắt gồm ba thành phần: lớp mỡ ở ngoài cùng, lớp nước ở giữa và lớp nhầy ở phía trong. Lớp mỡ giúp hạn chế sự bay hơi của nước, lớp nước cung cấp độ ẩm, còn lớp nhầy giúp giữ nước bám trên bề mặt mắt.

Do cấu trúc này, nhiều người dù bị khô mắt vẫn có hiện tượng chảy nước mắt sống. Theo bác sĩ Huy, nguyên nhân là nước mắt vẫn được tiết ra nhưng thiếu lớp nhầy để giữ lại trên bề mặt mắt nên nhanh chóng trôi đi.

Về nguyên nhân, khô mắt được chia thành hai nhóm chính gồm giảm tiết nước mắt và tăng bay hơi nước mắt. Nói đơn giản, tình trạng này xảy ra khi cơ thể tiết không đủ nước mắt hoặc nước mắt bay hơi quá nhanh khiến bề mặt mắt không duy trì được độ ẩm cần thiết.

Theo các nghiên cứu dịch tễ, tỷ lệ khô mắt trên thế giới dao động từ 5% đến 50% tùy từng báo cáo. Tại nhiều quốc gia châu Á, tỷ lệ này có thể lên tới khoảng 1/3 dân số. Ngoài yếu tố tuổi tác, phụ nữ cũng có nguy cơ mắc khô mắt cao hơn nam giới do ảnh hưởng của nội tiết tố, đặc biệt trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh.

Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh, việc sử dụng màn hình trong thời gian dài, giảm tần suất chớp mắt, tiếp xúc ánh sáng xanh và môi trường làm việc thiếu độ ẩm cũng làm tăng nguy cơ khô mắt.

So với người không mắc khô mắt, những người có triệu chứng khô mắt bị ảnh hưởng từ 2 đến 8 lần trong các hoạt động như đọc sách, sử dụng máy tính, làm việc hay lái xe. Một số nghiên cứu kinh tế y tế cũng cho thấy khô mắt làm giảm đáng kể năng suất lao động. Với trường hợp nặng, số ngày làm việc bị ảnh hưởng có thể lên tới 128 ngày mỗi năm.

Trong khi đó, PGS.TS Tôn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt Nam, cho biết cùng với sự phát triển của công nghệ số và nhịp sống hiện đại, các vấn đề liên quan đến bề mặt nhãn cầu đang gia tăng, đặc biệt là khô mắt.

Theo bác sĩ Thanh, khô mắt hiện không còn chỉ là một triệu chứng mà đã được xem là bệnh lý đa yếu tố, có thể gặp ở nhiều nhóm đối tượng, bao gồm cả người trẻ và nhân viên văn phòng.

“Điểm tích cực là khô mắt hoàn toàn có thể được phát hiện sớm và kiểm soát hiệu quả, nếu người dân nhận biết đúng các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thực hiện tầm soát ban đầu”, bác sĩ Thanh chia sẻ.