Điểm mới trong kịch bản biến đổi khí hậu vừa công bố
PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) cho Việt Nam phiên bản cập nhật năm 2025 có sự đổi mới về nội dung và cấu trúc, gồm 8 chương và các phụ lục chuyên sâu, bổ sung kịch bản khí hậu đô thị, kịch bản theo mức độ nóng lên toàn cầu (GWL), nguy cơ ngập và hướng dẫn khai thác, góp phần tăng tính chi tiết, trực quan và khả năng ứng dụng.

Mùa đông ở Việt Nam có thể biến mất vào giữa hoặc cuối thế kỷ này. Ảnh: Tuấn Anh
PGS.TS Phạm Thị Thanh Ngà nhấn mạnh, kịch bản BĐKH không phải dự báo. Đây là kịch bản giả định có cơ sở khoa học và độ tin cậy về xu hướng trong tương lai của khí hậu dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế – xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nước biển dâng. Do đó, việc sử dụng hiệu quả kịch bản đòi hỏi xem xét cả phạm vi bất định và lựa chọn kịch bản phù hợp với mục tiêu sử dụng. Đối với quy hoạch và thiết kế gắn với các mốc thời gian cụ thể, Viện khuyến nghị sử dụng thông tin theo các kịch bản thấp, trung bình và cao; trong khi đánh giá rủi ro và xây dựng lộ trình thích ứng linh hoạt có thể khai thác thông tin theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu.
Kịch bản BĐKH 2025 được cải tiến về độ phân giải không gian, cung cấp thông tin chi tiết đến cấp xã và cập nhật theo các thập kỷ. Bên cạnh các thông tin về nhiệt độ và lượng mưa, kịch bản còn bổ sung các yếu tố như gió, bức xạ và nhiệt độ bề mặt biển; đồng thời xây dựng thông tin chuyên sâu cho các đô thị lớn. Đây là bước tiến có ý nghĩa thực tiễn, bởi nhu cầu sử dụng Kịch bản BĐKH hiện nay không chỉ dừng ở quy mô quốc gia hay vùng mà ngày càng cần thông tin cụ thể cho từng địa phương, ngành, lĩnh vực và công trình.
Một điểm mới nổi bật của phiên bản 2025 là việc cung cấp thông tin về các hiện tượng cực đoan theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5 độ C; 2 độ C; 3 độ C và 4 độ C. Khi mức nóng lên tăng, các cực đoan về nhiệt, mưa và nhiều hiện tượng khí hậu khác có xu hướng gia tăng cả về tần suất và cường độ.
Lần đầu tiên, Kịch bản BĐKH 2025 xây dựng nội dung chuyên sâu cho khu vực đô thị, trong đó tập trung vào Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Kịch bản xem xét đồng thời tác động của nóng lên toàn cầu và quá trình đô thị hóa, qua đó làm rõ sự gia tăng nhiệt độ, nắng nóng, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và mưa cực đoan.
Kịch bản 2025 cập nhật dự tính nước biển dâng trên Biển Đông và khu vực ven biển Việt Nam, đồng thời xây dựng bản đồ nguy cơ ngập do nước biển dâng. Đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình toàn Biển Đông được dự tính khoảng 46,1 cm theo kịch bản thấp đến 63,7 cm theo kịch bản cao. Đối với toàn dải ven biển Việt Nam, theo kịch bản cao, mức dâng trung bình vào cuối thế kỷ khoảng 61,9 cm, với cận trên lên tới 82 cm. Bản đồ nguy cơ ngập cho thấy sự phân hóa rất rõ giữa các vùng. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao nhất, trong khi nhiều khu vực ven biển Bắc Bộ và Trung Bộ có tỷ lệ ngập thấp hơn do đặc điểm địa hình.
Mùa đông sẽ biến mất
TS Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí tượng, nhận định với kịch bản biến đổi khí hậu hiện tại thì từ khoảng giữa đến cuối thế kỷ này Việt Nam sẽ không còn mùa đông. Nhiệt độ ở nội đô hai thành phố tăng nhanh hơn vùng ngoại ô do tác động kết hợp giữa biến đổi khí hậu toàn cầu và đặc điểm bề mặt đô thị. Những khu vực có mật độ xây dựng cao, nhiều đường bêtông, nhựa và ít diện tích xanh có khả năng hấp thụ, tích trữ nhiệt lớn hơn.
Hiện tượng này được gọi là đảo nhiệt đô thị, tức khu vực xây dựng dày đặc thường nóng hơn những vùng xung quanh có nhiều cây xanh và mặt nước. Chênh lệch nhiệt độ giữa các khu vực không cố định mà thay đổi theo thời điểm trong ngày, mùa và điều kiện thời tiết.
Theo số liệu được TS. Trương Bá Kiên công bố, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng nóng lên không chỉ qua nền nhiệt trung bình mà còn ở các cực trị nhiệt độ. Trong giai đoạn 1961-2023, mức tăng nhiệt độ phổ biến ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ khoảng 0,3-0,5 độ C mỗi thập kỷ.
Dự báo vào cuối thế kỷ XXI (giai đoạn 2081-2100), mức tăng nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam theo kịch bản trung bình (SSP2-4.5) khoảng 2,1 độ C (khoảng biến đổi 1,7-2,7 độ C), và có thể lên tới 2,8 độ C theo kịch bản phát thải cao (SSP3-7.0). Khu vực miền Bắc và Bắc Trung Bộ tiếp tục là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với mức tăng trung bình năm có thể đạt 3,0-4,0 độ C.
Nhiệt độ cực trị cũng gia tăng mạnh mẽ. Khi mức nóng lên toàn cầu đạt 4 độ C, nhiệt độ tối cao cực đại tại Việt Nam có thể tăng 4,3 độ C, còn nhiệt độ tối thấp cực tiểu tăng 4,7 độ C. Dưới kịch bản SSP3-7.0, số ngày nắng nóng có thể tăng 70-75 ngày và nắng nóng gay gắt tăng 20-30 ngày; ở chiều ngược lại, số ngày rét đậm, rét hại tại vùng núi Tây Bắc giảm 20-50 ngày. Hệ lụy từ nắng nóng cực đoan sẽ tác động trực tiếp tới sức khỏe con người, làm gia tăng nguy cơ kiệt sức, gia tăng số ngày có điều kiện nhiệt – ẩm nguy hiểm cho thi công xây dựng, đồng thời đe dọa an ninh lương thực và làm tăng nguy cơ cháy rừng.
Bên cạnh nhiệt độ, TS. Trương Bá Kiên nhấn mạnh xu thế bão trên Biển Đông cho thấy diễn biến rất đáng lo ngại: số lượng bão và áp thấp nhiệt đới tăng nhẹ (0,16 cơn/thập kỷ), nhưng bão mạnh từ cấp 12 trở lên lại tăng nhanh hơn (0,38 cơn/thập kỷ). Khả năng và tần suất xuất hiện của các siêu bão có sức tàn phá tương đương bão Yagi (tốc độ gió trên 58 m/s) sẽ gia tăng mạnh mẽ. Những cơn bão này mang theo lượng mưa cực đoan, gió giật mạnh và sóng lớn, trực tiếp đe dọa hệ thống hạ tầng ven biển.
Cùng với bão mạnh, mực nước biển dâng trung bình có thể đạt tới 63,7 cm vào cuối thế kỷ (kịch bản cao SSP3-7.0), đẩy khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển phía Nam vào tình trạng đối diện với nguy cơ ngập lụt cao nhất cả nước. Tác động kép từ khí hậu cũng khiến năng suất lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng có nguy cơ suy giảm lớn, và bùng phát dịch bệnh như sốt xuất huyết tại các đô thị.
Nhấn mạnh hai bài toán lớn nhất từ kịch bản là nền nhiệt tăng và rủi ro bão lớn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên đề nghị các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chủ động khai thác, lồng ghép thông tin kịch bản vào các chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và phương án quản trị rủi ro dài hạn. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Cục Biến đổi khí hậu khẩn trương phối hợp hoàn thiện, sớm trình Quốc hội thông qua Luật Biến đổi khí hậu, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phát triển bền vững và an toàn toàn diện.